Home / Văn mẫu lớp 12 / Phân tích bài thơ ‘Tiếng hát con tàu”- văn lớp 12

Phân tích bài thơ ‘Tiếng hát con tàu”- văn lớp 12

Đề bài: Phân tích bài thơ ‘Tiếng hát con tàu”

Bài làm

Tác giả Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Ông sáng tác từ rất sớm, nổi tiếng là người có nhiều tác phẩm hay để lại nhiều ấn tượng đặc đặc cho người đọc. Bài thơ “Tiếng hát con tàu” là một bài thơ được tác giả Chế Lan Viên sáng tác sau cách mạng. Hình ảnh con tàu chính là một sự hóa thân đầy ẩn ý của chính tác giả khi tìm lại với chính mình.

Bài thơ được ra đời khi đất nước đã hòa bình nhân dân miền Bắc phấn khởi bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ta phát động phong trào đi khai hoang xây dựng những vùng kinh tế mới ở vùng sâu vùng xa, những nơi địa đầu của tổ quốc.

Phong trào này được nhân dân các vùng đồng bằng, những người thanh niên miền xuôi hưởng ứng mạnh mẽ. Họ ra đi xây dựng những vùng kinh tế mới với tinh thần hân hoan, tươi vui phấn khởi, như hình ảnh những con tàu băng băng chạy trên đường dài, làm thay đổi những vùng đất xưa chính là chiến trường ác liệt, thì nay được tái sinh trở thành những vùng quê trù phú, phát triển.

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu.

Tây Bắc chính là nơi địa đầu của miền Bắc nước ta, nơi đây xưa kia chính là vùng đóng quân của quân cách mạng, tình cảm của người chiến sĩ với vùng đất Tây Bắc đã xuất hiện nhiều trong thơ ca kháng chiến. Như trong bài thơ “Việt Bắc” Tố Hữu cũng đã vẽ lên một bức tranh tứ bình về thiên nhiên và con người vùng đất Tây Bắc.

Tác giả Chế Lan Viên đã sử dụng nghệ thuật câu hỏi tu từ thể hiện những quyết tâm trong lòng những người ra đi.

Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Tâm trạng của những người trẻ khí thế hào hùng quyết tâm lên những vùng núi ra xôi nơi địa đầu tổ quốc để xây dựng những vùng kinh tế mới. Quyết tâm biến những vùng đất nghèo nàn, hoang sơ trở thành những mảnh đất trù phú sau chiến tranh. Bởi trong tâm hồn họ đã chính là Tây Bắc. Trong tim họ luôn có mảnh đất thân thương này, những tình cảm gắn bó trong kháng chiến, thì sau chiến tranh tình cảm ấy càng nồng nàn mãnh liệt hơn.

Những câu thơ đầu tiên như giục giã thôi thúc con người như lời hiệu triệu của Đảng nhà nước với toàn thể nhân dân cùng nhau lên đường nhưng chúng ta không đi chiến đấu mà đi phát triển kinh tế, đi xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc, dù trên mặt trận nào thì người dân của chúng ta cũng vô cùng háo hức.

Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng ?
Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô ? Tàu đói những vành trăng.
Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi ?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.

Trong khổ thơ này nhà thơ đã hóa tâm hồn của mình thành con tàu đang nỗ lực vượt chặng đường hàng nghìn kilomet tiến lên phía trước, mà đích tới chính là nơi địa đầu tổ quốc, chính là những mảnh đất thân thương, nơi gắn bó với người chiến sĩ qua những cuộc chiến, nơi chứa nhiều kỷ niệm.

Con tàu chính là biểu tượng của những khát khao tuổi trẻ, của những người tuổi đôi mươi đang xuân xanh phơi phới khát khao cống hiến sức lực, trí tuệ của mình để xây dựng vùng kinh tế giàu có trù phú.

Điều đặc biệt trong bài thơ này là khi tác giả Chế Lan Viên sáng tác bài thơ “Tiếng hát con tàu” lên Tây Bắc thì đất nước ta vừa trải qua chiến tranh nền kinh tế còn chưa phát triển nên hoàn toàn không có tuyến đường sắt nào lên Tây Bắc cả.

Chính vì vậy, bài thơ này còn là mơ ước của tác giả về tương lai mới của đất nước Việt Nam, chúng ta sẽ phát triển sẽ có những tiếng đường sắt, tuyến đường cao tốc lên vùng Tây Bắc, một trong những địa bàn hiểm trở, khó khăn trong việc đi lại vô cùng.

Những khao khát được mở rộng những chân trời mới, xây dựng đất nước giàu đẹp, vững mạnh được thể hiện qua những câu thơ vô cùng hào hùng, khí thế.

Tác giả muốn những con người hãy mở rộng lòng mình “chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép” thể hiện việc cởi mở, giám xông pha, xông lên phía trước của những con người trẻ tuổi, dù là hải đảo xa xôi, hay biên giới tận cùng tổ quốc. Họ cũng muốn ra đi.

Trên Tây Bắc ! ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất
Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân.

Trong khổ thơ này tác giả Chế Lan Viên khôn khéo, nhắc lại những kỷ niệm về vùng đất Tây Bắc với những kỷ niệm hào hùng, anh dũng, với những tình cảm thân thương tha thiết nhất “Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng”

tiếng hát con tàu
tiếng hát con tàu

Hình ảnh Tây Bắc trong kháng chiến nhuộm đỏ máu những người chiến sĩ của dân tộc ta những người con dân tộc hy sinh anh dũng để mảnh đất Tây Bắc hôm nay được trù phú tươi đẹp, đó là sự hy sinh vô cùng lớn, nhưng rất xứng đáng để chúng ta đánh đổi. Những trái chín đầu xuân thể hiện những mùa xuân mới, mùa xuân của hòa bình, của tự do nơi địa đầu tổ quốc, nơi chiến tranh bom đạn đã dội xuống như mưa. Đó là sự biến đổi hóa thân phi thường của mảnh đất tuyệt vời này

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường.
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương.

Vùng đất Tây Bắc trong tâm hồn tác giả như một quê hương thứ hái, đã thân thuộc gắn bó máu thịt với tâm hồn tác giả, chính vì vậy cuộc hành trình về lại Tây Bắc với tác giả chỉ như là một cuộc hành trình về với đất mẹ, với tổ quốc yêu thương mà thôi, không hề xa xôi, hay lạ lẫm gì cả.
Những câu thơ thể hiện sự reo vui hoan hỉ trong lòng những con người ra đi, trong lòng tác giả. Tác giả ước nguyện một lần về với Tây Bắc về với đất mẹ thân thương.

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

Trong khổ thơ này tác giả Chế Lan Viên đã sử dụng nghệ thuật so sánh ước lệ tượng trưng để thể hiện sự vui mừng của mình khi về lại vùng đất Tây Bắc, gặp lại nơi xưa, với những tình cảm quân dân gắn bó thân thiết. Như trẻ thơ đói lòng gặp sữa, thể hiện những khát khao mong nhớ trong lòng tác giả bấy lâu, nay đã trở thành hiện thực.

Chim én gặp mùa xuân thì thật tuyệt vời biết bao. Nó có thể trưng bày những vẻ đẹp tuyệt vời của mình, thể hiện sự hạnh phúc ngập tràn của người con lâu ngày không trở về mảnh đất đã từng chở che, cưu mang nuôi dưỡng mình trong những ngày bom đạn chiến tranh.

Con nhớ anh con người anh du kích
Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con.
Con nhớ em con thằng em liên lạc
Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc
Mười năm tròn ! Chưa mất một phong thư.
Con nhớ mế ! Lửa hồng soi tóc bạc

Trong những câu thơ tiếp theo này tác giả nhắc lại những tình cảm gắn bó máu thịt giữa quân và dân, giữa tác giả những người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa với đồng bào người dân tộc nơi đây. Những tình cảm còn gắn bó hơn cả người nhà, người thân trong chiến tranh, gợi nhắc lại những hình ảnh thân thương, anh hùng của người dân Tây Bắc

Điệp từ “nhớ” được tác giả nhắc đi nhắc lại thể hiện sự khắc cốt, ghi tâm của người con đã từng ăn cơm, uống nước, nhận nhiều tình cảm yêu thương của người dân nơi đây. Những hy sinh của người dân Tây Bắc dành cho kháng chiến, cho những chiến sĩ cách mạng, trọn đời không thể nào quên.

Năm con đau, mế thức một mùa dài.
Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi.

Trong chiến tranh rất nhiều người lính cụ Hồ bị thương, phải nằm trú ẩn trong nhà dân ở những vùng cao, hiểm trở, chính những người đồng bào dân tộc những người dân lương thiện vùng Tây Bắc đã chăm sóc, nuôi giấu cán bộ, rồi nhường cơm sẻ áo của mình cho cán bộ Việt Minh, nhờ những tình cảm hy sinh, thân thiết đó mà chúng ta mới có thể chiến thắng kẻ thù lớn mạnh. Do đó, những tình cảm gắn bó của tác giả với người dân nơi đây không từ ngữ nào có thể tả hết được.

Nó đã trở thành những kỷ niệm bất hủ khó phai trong lòng mỗi người chiến sĩ, những ai đã từng sống, từng gắn bó với mảnh đất Tây Bắc thì suốt cuộc đời không thể nào quên được mảnh đất thân thương này.

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương ?
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!

Tình yêu của tác giả dành cho mảnh đất thân yêu này không gì có thể tả hết. Nó thể hiện những tình cảm ân tình, sâu nặng với mảnh đất tuy không phải là quê hương nhưng gắn bó hơn cả quê hương. Chính tình yêu của tác giả với mảnh đất thân thuộc này đã làm nên sức mạnh để chiến đấu

Mảnh đất tưởng như chỉ là nơi đóng quân, nơi tạm trú ẩn của những người chiến sĩ, những kỷ niệm tưởng như sẽ phôi phai theo thời gian. Nhưng tác giả không thể nào quên được, bởi mảnh đất đó đã trở thành máu thịt, một phần cơ thể, là tâm hồn của tác giả. Nó gắn bó trong từng mạch máu, những kỷ niệm không bao giờ phai nhạt.

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

Trong khổ thơ này tác giả nhấn mạnh hai từ “Tình yêu” tình yêu không chỉ có trong tình yêu nam nữ, mà nó còn thể hiện tình cảm của người với người, giữa người với thiên nhiên cây cỏ. Chính nhờ có tình yêu trong tim, mà dù ở một nơi hoàn toàn xa lạ như vùng Tây Bắc thì tác giả cũng không cảm thấy bỡ ngỡ, nhớ nhà hay nhớ quê hương bởi tình yêu làm cho đất lạ cũng hóa thành quen.

Điệp từ “nhớ” được tác giả nhắc đi nhắc lại rất nhiều thể hiện tình cảm nhớ nhung, da diết những cảm xúc dồn nén bấy lâu, giữa người con phương xa với mảnh đất gắn bó với mình trải qua nhiều sóng gió bão giông.

Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi
Tình em đang mong tình mẹ đang chờ
Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội
Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga.
Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng
Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào
Rẽ người mà đi vịn tay mà đến
Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao.

Tác giả khao khát thôi thúc mình tiến lên Tây Bắc về với những ngọn nguồn của tâm hồn, nơi gắn bó máu thịt, nơi có những kỷ niệm không thể nào phai trong cuộc đời, nơi thiêng liêng đã nhuộm máu nhiều chiến sĩ thân thương để có thể kết thành mùa xuân lúa chín.

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ
Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ,
Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa,
Nay trở về, ta lấy lại vàng ta.

Nhà thơ đã mượn hình ảnh mà người dân thường gặp trong ca dao, dân ca để cho vào bài thơ của mình làm tăng tính gần gũi , giản dị tạo nghệ thuật mới cho bài viết. Thể hiện sự kiên trung, anh hùng của mình “lửa thử vàng gian nan thử sức”

Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng.
Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống
Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân.

Bài thơ “Tiếng hát con tàu” thể hiện nhiệt huyết, tình cảm của tác giả với mảnh đất địa đầu tổ quốc Tây Bắc nơi gắn bó với nhiều chiến sĩ cách mạng trong chiến tranh, nơi có nhiều chiến công anh dũng, chịu nhiều hy sinh và mất mát đau thương.

Cảm hứng bao trùm bài thơ chính là nỗi niềm hạnh phúc khi được ra đi được về lại nơi xưa, nơi đã từng gắn bó máu thịt với mình, thể hiện lòng biết ơn của tác giả với những con người và mảnh đất này.

Các em có thể xem nhiều bài văn mẫu hay trong chương trình lớp 12 tại đây:

Văn mẫu lớp 12

Check Also

Đất nước của Nguyễn Đình Thi

Bình giảng đoạn thơ “Ôi những cánh đồng quê chảy máu..” trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi- Văn lớp 12

Đề bài: Bình giảng đoạn thơ “Ôi những cánh đồng quê chảy máu..” trong bài …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *