Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân- văn lớp 12

Đề bài: Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân

Bài làm

Nhà văn Kim Lân được mệnh danh là nhà văn của những người nông dân, các tác phẩm của ông đều gắn liền với những hình ảnh người nông dân khốn khổ. Nhưng ông Hai trong Làng hay như hình ảnh anh cu Tràng, bà cụ Tứ, rồi vợ cu Tràng trong “Vợ nhặt”.

Thông qua tác phẩm của mình tác giả đã thể hiện cái nhìn nhân sinh quan đầy nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Đó là nỗi niềm đồng cảm với sự khốn khổ của những người dân bần hàn, bị xã hội vùi dập, chà đạp tước đi quyền sống, quyền làm người.

Vợ nhặt là một tác phẩm được viết trong những năm xảy ra nạn đói kinh điển, lịch sử của nước ta năm 1945. Nó đã lấy đi hơn hai triệu tính mạng người dân Việt Nam trở thành nỗi ám ảnh của mỗi người dân khi đi qua giai đoạn này. Nó phản ánh một bức tranh hiện thực màu xám, những số phận con người sống lầm lũi, cam chịu trong đói nghèo, trong sự bóc lộ của nhiều tầng lớp giai cấp.

Giá trị nhân đạo chính là tình cảm mà tác giả Kim Lân đã dành cho những nhân vật trong tác phẩm của mình, là cái tâm của tác giả trong cách khắc họa lên nỗi khổ, tâm hồn nhân cách của nhân vật mình. Nó chính con đường đi mà tác giả muốn nhân vật của mình hướng tới cuộc sống mới tốt đẹp hơn, muốn cho họ có những lối thoát ra khỏi cuộc sống nghèo khổ khó khăn đó.

Sự nhân đạo của tác giả thể hiện ngay ở nhan đề của tác phẩm “Vợ nhặt”. Một nhan đề có nhiều sức gợi trong lòng người đọc, khiến con người phải suy nghĩ rất nhiều. Nó thể hiện được rằng một việc mà ông bà ta luôn coi trọng là một trong ba việc lớn nhất của đời người “Tậu trâu lấy vợ làm nhà. Trong ba việc ấy thật là khó thay”. Nhưng đối với tác giả thì nó lại là việc vô cùng dễ dàng, như việc người ta lượm một cục gạch ngoài đường mang về nhà mà thôi.

Chính nhan đề của tác phẩm đã thể hiện được sự đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ, cũng như sự tài tình của tác giả khi tạo ra tình huống truyện vô cùng độc đáo hấp dẫn người đọc, khiến cho người đọc không khỏi rưng rưng dòng lệ theo số phận của mình.

Vợ nhặt của Kim Lân
Vợ nhặt của Kim Lân

Bối cảnh của truyện ngắn là năm xảy ra nạn đói kinh khủng lịch sử, đâu đâu người ta cũng thấy người chết như ngả rạ, mùi xác chết thối rữa bốc lên khiến người sống muốn nôn ói, những con quạ kéo đến ngút trời từng đàn để ăn xác thối. Những người sống hiện lên vật vờ, như những thây ma chỉ còn da bọc xương, gầy tong teo, trông khiếp sợ.

Trong mỗi trang viết của mình tác giả Kim Lân đã trải lòng mình qua từng câu từng chữ, khiến người đọc cảm thấy ngậm ngùi xót xa, cảm thương cho mỗi số phận, nhân vật trong tác phẩm.
Kim lân đã phác họa lên một bức tranh nhiều bi kịch, khiến cho mỗi người khi đọc xong tác phẩm của ông đều cảm thấy phẫn nộ căm ghét tội ác của giặc của chế độ phong kiến đã làm cho bao người dân rơi cảnh bần cùng, khốn khổ.

Những nhân vật như anh cu Tràng, vợ anh cu Tràng, bà cụ Tứ hiện lên nhiều xúc động. Trong mỗi nhân vật đều mang những tính cách, tâm tư tình cảm riêng. Họ đều có những nỗi niềm, ẩn chứa trong lòng, đều có những tâm sự không thể giãi bày cùng ai.

Tình huống nhặt được vợ của nhân vật anh cu Tràng vô cùng độc đáo, người ta lấy vợ trong lúc kinh tế khá giả nhưng anh cu Tràng lại nhặt được vợ trong lúc đói kém nhất, người chết như ngả rạ. Anh cu Trang hiện lên qua nét vẽ của tác giả Kim Lân là người đàn ông nghèo ngoại hình xấu xí, thô kệch nhưng anh chăm chỉ làm việc, sống lương thiện.

Một ngày đi làm anh nhặt được vợ chỉ vì những lời bông đùa “muốn ăn cơm trắng với giò thì ra đây đẩy xe bò với anh nào”. Thế mà có một cô gái ra đẩy xe cho anh thật, rồi theo anh về nhà làm vợ.

Bà cụ Tứ khi thấy người con gái lạ mặt ngồi trong nhà mình thì giật mình lắm. Bà không tin vào mắt mình tưởng mình nhìn gà hóa quốc, nhưng khi rõ ràng mười mươi là sự thật thì bà lại cảm thấy xót thương cho con trai mình, và cho cô gái kia. Họ đã lấy nhau trong cảnh nghèo khổ quá, không có nổi mâm cơm ra mắt họ hàng, không cho anh em gia đình họp mặt, không đăng ký.

Bà thấy xót xa vì cảnh nghèo đói đã lấy đi hạnh phúc của rất nhiều người người. Nỗi xót xa của một người phụ nữ nhân hậu thương con, rồi bà cũng thương con dâu của mình phải gặp cảnh nghèo khổ này thì một cô gái mới dám theo không con trai bà như thế chứ, thì con trai bà mới có vợ được. Chứ bà biết gia đình bà nghèo, con trai bà xấu xí chẳng học hành nhiều, chữ nghĩa cao siêu như người ta.

Sự bao dung của bà cụ Tứ thể hiện tấm lòng nhân hậu của một người mẹ thương con, một người phụ nữ giàu tình cảm giữa cái đói kém này còn đèo bồng thêm một miệng ăn. Nhưng bà không tiếc bà chỉ mong các con hạnh phúc cùng nhau chăm chỉ làm ăn biết đâu trời thương cho khấm khá.

Một suy nghĩ lạc quan, hướng thiện, hướng tới những chân trời hạnh phúc hơn. Đó chính là sự nhân đạo mà tác giả muốn thể hiện thông qua tác phẩm của mình.

Rồi bữa cơm đầu tiên sau khi cu Tràng nhặt được vợ. Hình ảnh nồi cháo cám được bưng ra, mỗi người ăn một hai bắt, ai cũng thấy đắng chát trong miệng, nhưng ai cũng vui vẻ ăn hết và tỏ vẻ ngon miệng. Trong bữa cơm gia đình đầm ấm đó họ nói về hình ảnh của Việt Minh phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo cứu đói.

Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng cuối tác phẩm là sự nhân đạo mà tác giả muốn dành cho những nhân vật của mình, ông muốn số phận những nhân vật của mình sẽ tìm ra hướng đi mới, con đường mới để có được hạnh phúc, có quyền làm người đúng nghĩa.

Các em có thể xem nhiều bài văn mẫu hay trong chương trình lớp 12 tại đây:

Văn mẫu lớp 12

Bài viết liên quan